Thứ Tư, 2 tháng 3, 2016

Từ lâu các nhà khoa học nhận thấy rằng người đất nước mặt trời mọc cũng như các dân tộc thiểu số Inuits và Esquimaux ở về phía Bắc Canada có tỉ lệ bệnh tim mạch rất thấp so với các dân tộc khác. Phải chăng nhờ tập quán ăn cá đã giúp họ tránh khỏi được một phần nào bệnh lý nói trên? Từ nhận xét nầy, người ta mới tìm ra được chất Omega-3 trong mỡ cá. Rất nhiều công trình khảo cứu khoa học đã nói lên sự lợi ích của Omega-3 cho sức khỏe chị em.

 Omega-3 là gì? 
Đây là những chất acid béo thiết yếu (essential fatty acids) nằm trong nhóm chất béo không bão hòa đa thể. Thiết yếu vì các bộ phân cơ thể không thể tự tổng hợp được mà cần phải nhờ thức ăn mang vào.

 Có 3 loại Omega-3: 
 1- Alpha linolenic acid (ALA): có nhiều nhất trong hạt lanh (linseed, flaxseed, graines de lin), trong đậu nành, trong hạt dẻ (walnuts), trong các loại dầu ăn làm từ các thực vật vừa kể và trong dầu Canola (colza). Riêng hai loại dầu đậu nành (soybean oil) và dầu hạt dẻ, ngoài chất béo Omega-3 ra, chúng cũng còn có chứa một tỉ lệ khá cao chất béo Omega-6 nữa.
 2- Eicosapentaenoic acid (EPA): Một phần nhỏ, lối 15 % được các bộ phân các bộ phân cơ thể tổng hợp từ chất acid béo ALA, phần lớn còn lại được tìm thấy trong cá tôm sò, mà đặc biệt là trong mỡ cá sống ở vùng nước lạnh như: salmon, mackerel, herring, trout, sardine, halibut vv…
Bệnh tiểu đường, bi kịch stress cũng như sự lạm dụng rượu và thuốc lá đều gây trở ngại trong việc chuyển hóa ALA ra EPA.
Theo nhiều tài liệu đối với biết cá tra, ba sa chứa một tỉ lệthuc pham giau axit beo omega-3chất béo omega 3 ít hơn so với các loại cá vùng nước lạnh.

 3- Docosahexaenoic acid (DHA): Được thấy nhiều trong các loài thủy sản và trong sữa mẹ.
Cơ chế nhờ đó mà Omega-3 có ảnh hưởng tới bệnh tim mạch là do tính kháng viêm, làm cho giảm áp huyết, làm cho giảm nồng độ triglycerides, kích thích nitric oxide xuất xứ từ nội mạc, giảm sự kết tụ tiểu cầu và giảm một vài eicosanoids gây viêm. Ngoài ra còn có bằng chứng rằng Omega-3 fatty acids ngừa được chứng tim đập sai nhịp và làm đối với cơ tim được quân bình (Trịnh Cường & Giang Nguyễn Trịnh). Tóm lại Omega-3 có lợi trong việc làm hạ cholesterol và triglyceride trong máu, ngừa bi kịch máu bị đóng cục (antithrombotic), ngừa nghẽn mạch vành và giúp điều hòa nhịp tim (antiarrythmic), nhờ đó tránh được nguy cơ chết bất đắc kỳ tử.
Cá nuôi chứa ít chất acid béo EPA và DHA hơn cá được đánh bắt ngoài biển. Có người còn nói Omega-3 cũng có biện pháp làm tăng sức miễn dịch, làm giãn nở mạch, ngừa bệnh viêm khớp tự miễn rheumatoid arthritis, ngừa bi kịch trầm cảm depression và luôn cả bệnh lú lẫn Alhzeimer nữa.

 Hình ảnh thuốc uống omega 3 

 Omega-6 là gì? 
Đây là một loại acid béo nằm trong nhóm chất béo không bão hòa đa thể. Trong nhóm nầy, quan trọng nhất là:
- Linoleic acid (LA): là một acid béo thiết yếu tạo ra trong tất cả những loại dầu thực vật mà quý bà thường dùng hằng ngày.
- Gamma linolenic acid (GLA): một phần được cơ thể tổng hợp từ chất LA, một phần khác hiện diện trong những dầu thực vật như primrose oil, borage oil và trong sữa mẹ.Trong toàn bộ cơ thể, GLA chuyển thành chất prostaglandins. Chất nầy có tính chống viêm sưng, rất hiệu quả để làm cho giảm hết mức triệu chứng bệnh viêm đa khớp tự miễn. (Polyarthrite rhumatoide autoimmune)
- Dihomo-gamma linolenic acid (DGLA): là một chuyển hóa chất của GLA… DGLA chuyển thành eicosanoids serie1 giúp bảo vệ tim mạch, kích thích miễn dịch, và đồng thời có tính chống viêm sưng (antiinflammatory).
- Arachidonic acid (AA):là một chuyển hóa chất của DGLA…AA chuyển ra thành eicosanoids serie 2 giúp vào việc làm lành các vết thương, cũng như dự phần vào cơ chế của phản ứng dị ứng. Tuy vậy, một sự thặng dư chất AA rất có hại đối với sức khỏe như nó có biện pháp kéo theo bệnh viêm khớp, bệnh ngoài da và một vài bệnh tự miễn (autoimmune) khác.

Eicosanoids serie 2 và eicosanoids serie 4 biến thể từ Arachidonic acid (AA) có thể gây viêm sưng, làm co các mạch máu, kích thích sự kết tụ tiểu cầu và là một vài hóa chất độc tùy theo nơi nào trong toàn bộ toàn bộ cơ thể mà eicosanoids được tăng hoạt.
Omega 6 hình thành trong những loại dầu thực vật như: dầu bắp (corn oil), dầu hạt bông vải (cottonseed oil), dầu hạt nho (grapeseed oil, huile de pepins de raisin), primrose oil (huile d’onagre), safflower oil (huile de carthame), borage oil (huile de bourrache), hemp oil (huile de chanvre), dầu mè (sesame oil), dầu đậu nành (soybean oil), dầu hoa hướng dương (sunflower oil, huile de tournesol), trong trứng gà, trong mỡ và trong beurre.
Cũng như Omega-3, Omega-6 rất có hiệu quả trong việc ngăn ngừa các bệnh tim mạch bằng cách làm giảm xuống cholesterol và triglyceride trong máu xuống.
Tuy vậy, ăn quá nhiềutac dung cua dau ca omega 3Omega-6 cũng không tốt đối với sức khỏe, như nó có mẹo hay làm gia tăng sự giữ nước trong hầu hết các bộ phân cơ thể, kéo theo việc tăng áp suất máu, và tăng nguy cơ hiện tượng máu bị đóng cục trong mạch.
Bởi lý do vừa kể, tỉ lệ giữa Omega-6 và Omega-3 tiêu thụ rất ư là quan trọng. Một tỉ lệ Omega-6 quá cao và Omega-3 quá thấp sẽ có ảnh hưởng không tốt đối với sức khỏe. Trong biến dưỡng, hai chất Omega-6 và Omega-3 đều tin tưởng thường xuyên dùng chung một số enzymes, vitamins (B3, B6, C, E) và các chất khoáng magnesium và zinc. Nếu Omega -6 quá nhiều, nó sẽ chiếm lấy hết các enzymes và vitamins cần thiết khiến Omega-3 không thể hoạt động một bí quyết hoàn hảo được, nhất là trong việc bảo vệ tim mạch, và còn có giải pháp gây nên cơn đau nhức viêm sưng chẳng hạn như viêm khớp và suyễn.
Ngoài Omega-3 và Omega 6 ra cũng còn có Omega-9 nữa. Chất sau nầy được gọi là oleic acid. Đây là loại chất béo không bão hòa đơn thể. Các nhà khoa học đối với biết rằng chất béo Omega-9 cũng rất tốt để ngăn ngừa các bệnh về tim mạch và có lẽ cả cancer vú ở đàn bà nữa. Dầu olive có chứa một tỉ lệ rất cao chất acid béo Omega-9. Khác với omega -3 và omega-6, omega-9 không phải là một chất acid béo thiết yếu.

 Cần phải có sự quân bình giữa omega-6 và omega-3 
Omega-3 rất ít ổn định, dễ bị hủy bởi ánh sáng, và nhiệt độ cao (như lúc chiên deep fried trong chảo nóng chẳng hạn). Dưới công dụng của oxy, Omega-3 dễ bị hôi (rancid).
Bởi một số lý do nầy, từ đó kỹ nghệ thực phẩm thường chọn một vài loại dầu nào dễ ổn định hơn để pha trộn trong thức ăn chế tạo theo lối công nghiệp.
Các loại dầu nầy thường chứa rất ít chất Omega-3, nhưng ngược lại nó lại rất giàu về omega-6. Tại các quốc gia Tây phương, và Bắc Mỹ, thực phẩm công nghiệp bán trong các chợ thường có chứa từ 10 đến 30 Omega-6 đối với 1 Omega-3. Tỉ lệ quá chênh lệch giữa Omega-6 / Omega-3 rất có hại cho sức khỏe.
Tỉ lệ lý tưởng phải ở mức từ 1 tới 4 Omega-6 đối với 1 Omega-3.
Nhìn chung, trong các bữa ăn hằng ngày, dân Bắc Mỹ ít chiụ dùng cá nên thiếu Omega-3, nhưng ngược lại quá thừa Omega-6 vì họ thường tin dùng fast foods và các loại SP biến chế công nghiệp chứa rất nhiều dầu thực vật đầy ấp Omega-6.
Thành phần omega 3 và oméga 6 trong những dầu ăn Omega-3 and Omega-6 fatty acids in plant/seed oils-
 
Nhu cầu của bạn 

Theo Hoa Kỳ và Canada, một người có nhu cầu 2000 Calories (kcal) / ngày, thì cần phải có những Omega-3 như sau: ALA phải bổ sung 0.5% nguồn năng lượng, tương đương với 1,1g Omega-3 ở đàn bà và 1,6g ở quý ông và phải có tối thiểu 500mg chất EPA+DHA. Họ cũng thiên về Omega-3 từ nguồn thủy sản nhiều hơn là Omega-3 từ nguyên do thực vật.
Để có được 1,3g Omega-3, thì cần:
Omega-3 nguồn gốc thực vật (ALA)
- 2 muỗng café hạt lanh xay
- ½ muỗng café (2ml) dầu hạt lanh
- 1 ¼ tách noix de Grenoble
- 13 gr hạt Graines de chanvre (hemp)
- 1 muỗng canh dầu canola (colza)
- 22 ml dầu đậu nành
Omega-3 nguyên do thủy sản (EPA+ DHA)
- 70 g cá salmon Atlantic (cá nuôi)
- 90 g cá pink salmon (trong lon)
- 90 g cá sardine
- 70 g cá herring (hareng)
- 120 g cá white tuna (thon) loại trong lon
Còn đối với nhu cầu về Omega-6 (LA): phái mạnh cần phải có 16g/ngày và quý cô 12g/ngày.
Năm 1999, một số nhà chuyên môn trên toàn cầu đã họp lại và đưa ra nhận xét cho rằng số liệu về nhu cầu Omega-3 mà Hoa Kỳ và Canada đưa ra vẫn còn quá thấp, trong khi số liệu về Omega-6 thì lại quá cao, không hiệu quả để có thể làm giảm thiểu các bệnh lý nghẽn mạch vành được.
Theo họ, nhu cầu về Omega-3 cần phải là 2,22g/ngày, và EPA+DHA: 0,65g/ngày. Đối với Omega-6, phải là 4,44g/ngày, tối đa 6,67g/ngày.
Tổ Chức Y Tế thế giới (WHO) thì khuyến cáo nhu cầu về Omega-3 như sau: ALA từ 0,8g đến 1,1g/ngày và EPA+DHA từ 0,3g đến 0,5g/ngày.

 Có nên ăn cá hay không? 
Omega-3 EPA và DHA trong cá và trong dầu cá là một số acid béo rất tốt đối với tim.
The American Heart Association khuyến cáo bạn hãy quan tâm dùng cá 2-3 lần một tuần, đồng thời cũng nên ăn những loại thực vật giàu chất béo Omega-3 ALA như hạt lanh, hạt dẻ, và dầu canola.
Mấy năm trước đây có khảo cứu đối với biết chúng nên cẩn thận với loại cá rô Phi (Tilapia) nuôi vì chúng có khả năng chứa rất nhiều chất Omega 6 nhưng rất ít chất omega 3.
Tránh đừng nên ăn những lát cá có áo bột sẵn bán ngoài chợ vì nó thường chứa nhiều chất béo Trans rất xấu. Sự ích lợi của việc ăn cá để ngừa bệnh tim mạch vẫn trội hơn việc cữ dùng cá vì sợ cá bị nhiễm thủy ngân và dioxin.
Tuy nói vậy, nhưng cho bạn đang bầu bí, hoặc đang cho con bú cũng cần nên cẩn thận. Các chất nầy ảnh hưởng không tốt đối với cái thai. Cho bà con đang sinh sống tại các quốc gia Tây phương, thì nên ngăn chặn việc dùng các loại cá như cá mập (shark), cá tuna, cá lưỡi kiếm (swordfish), và cá trout là một vài loại cá có chứa nhiều thủy ngân nhất.
Sau đây là một số thí dụ về Omega-3 ở một vài loài thủy sản (100g): Cá salmon 1.8 g, sardine 1.4, herring 1.2, mackerel 1.0, trout 1.0, swordfish 0.7, tuna 0.7, haddock 0.2, cod 0.2, tôm tép 0.3, sò 0.5-0.7g (USDA Nutrient database for standard reference).
Cá chứa ít chất béo bão hòa hơn thịt, từ đó ăn cá vẫn tốt hơn ăn thịt.
Ăn cá vẫn là phương pháp tốt hơn là uống một vài viên dầu cá. Mỡ cá ngoài chất Omega-3 ra, nó cũng còn có chứa những những những dưỡng chất quý hiếm khác nữa, chẳng hạn như chất Selenium mà dầu cá không có. Trường hợp ai không thích ăn cá thì họ nên uống thêm các viên supplement dầu cá.

 Dầu cá thì sao? 
Dầu cá là nguồn bồi dưỡng trực tiếp 2 loại Omega-3 EPA và DHA. Dầu cá bán ở trên thị trường thường có pha thêm vitamin E, là chất chống Oxy hóa để giúp đối với dầu khỏi trở nên hôi. Vitamin E có khuynh hướng làm loãng máu và có giải pháp gây xuất huyết nếu lạm dụng dầu cá.
Tại Canada hiện tại có vài chục hiệu dầu cá được bày bán trên thị trường. Các viên dầu cá nầy thường chứa vào khoảng 1000mg dầu, nhưng không xẩy ra nghĩa là nó có đủ 1000mg Omega-3 đâu. Tùy theo loại dầu cá mà nồng độ Omega-3 có mẹo hay thay đổi từ 100mg đến 700mg chất Omega-3 EPA+DHA.
Cũng có loại sản phẩm vừa chứa dầu cá mà đồng thời cũng có chứa những loại dầu khác, như dầu bourrache (borage oil), dầu onagre (primrose oil), dầu carthame (safflower oil) vv…
Được biết nhu cầu trung bình hằng ngày của phụ nữ ở vào khoảng 500 mg EPA+DHA. Dầu cá khác với dầu gan cá. Dầu gan cá được tin tưởng sử dụng để bồi dưỡng vitamin A và vitamin D.
Muốn có đủ nhu cầu Omega-3 cần thiết phụ nữ cần phải uống một vài lượng lớn dầu gan cá, vì vậy có cơ hội có nguy cơ bị ngộ độc do thặng dư vitamin A và vitamin D. Những ai có vấn đề máu huyết, hoặc đang thường xuyên sử dụng viên uống kháng đông (warfarin, heparin) thì cần phải thận trọng khi dùng dầu cá. Dùng quá nhiều dầu cá có thể bị nôn mửa và đi tiêu lỏng.
Vì tính chất gây loãng máu của dầu cá, do đó nếu uống trên 3g Omega-3 trong một ngày có mẹo hay bị chảy máu cam. Giai đoạn này, tại Bắc Mỹ, dầu cá vẫn còn được xếp trong nhóm thức ăn bồi dưỡng (dietary supplement), vì vậy luật lệ kiểm soát chất lượng một số loại dầu cá vẫn còn lỏng lẻo chớ chưa được nghiêm ngặt như phía bên dược phẩm.
Các liều lượng Omega ghi trên nhãn hiệu đôi khi cũng không chắc gì đúng với chất lượng của thực phẩm chức năng chứa đựng trong lọ.

  Quảng cáo  

Collagen được xem như chất keo kết dính các mô trong các bộ phân toàn bộ cơ thể, đảm bảo sự dẻo dai, đàn hồi cho các cơ. Thuốc đẹp da Collagen +A,E,C 12000mg của Pháp giúp cung cấp collagen đối với các bộ phân các bộ phân cơ thể. Xem thêm  vien uong collagen

0 nhận xét:

Đăng nhận xét